Posted in Cảm nhận

Truyện kể Genji ( Genji Monogatari) – Đời nặng một chữ “tình” qua 10 chương đầu.

Genji.Monogatari.Sennenki.full.1446264

Tác giả: Murasaki Shikibu 紫式部 Tử Thức Bộ

*Truyện kể Genji từng được xuất bản năm 1992, hiện nay khó có thể tìm được bản này nữa, chỉ có 10 chương đầu ở đây. Hy vọng trong tương lai không xa sẽ có nhà xuất bản nào tái bản lại bộ này hoặc một ngày nào đó tôi có thể đọc được bản gốc.

“Truyện kể Genji” là câu chuyện kể về cuộc đời chàng Genji Hikaru, hoàng tử con trai của thứ phi Kuritsubo – người rất mực được hoàng thượng yêu thương.

Xưa ta có “hồng nhan họa thủy” thì tại “truyện kể Genji” ta có “lam nhan họa thủy”, Genji Hikaru được miêu tả là người có vẻ đẹp không ngòi bút nào có thể miêu tả được khiến người gặp người yêu hoa gặp hoa nở. Mà không vẻ đẹp của chàng còn lấn át cả tự nhiên đến nỗi dầu người ta có thấy “hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” cũng không lấy làm lạ. Nhân vật Chujo anh rể và cũng là bạn thân của chàng còn có lời thơ rằng:

“Dung mạo dường này

Cũng là hương sắc

Như trong khúc hát

Bông hoa đầu mùa

Mới nở sáng nay”

Không những có dung mạo tuyệt mỹ mà Genji còn sở hữu tài năng vượt trội, đặc biệt là một tâm hồn lãng mạn , xuất khẩu thành thơ. Chàng thậm chí còn có thể ứng tác những bài thơ sử dụng Hán ngữ và thơ Đường. Tuy nhiên, cụ Nguyễn Du nói đâu có sai:

“Chữ tài liền với chữ tai một vần.”

10 chương đầu của tác phẩm, “tai họa” của chàng nói nhỏ thì cũng thấy nhỏ, mà nói to thì cũng thấy to, bởi nó xuất phát từ cái tính đa tình, phong lưu của Genji. Gần như mỗi chương là kể về một chuyện tình của Genji với một cô gái, là thứ phi Fujitsubo – người giống với nàng Kuritsubo đã mất, là nàng Utsusemi bỏ quên tấm áo, là nàng Yugao đoản mệnh, hay tiểu thư Murasaki, rồi cả nàng Aoi- chính thất của chàng nữa, còn cả nàng Asagao gặp gỡ phút chốc trong cung trước khi nàng chuyển đến cung Ise làm nữ tư tế, à còn phu nhân Rokujo nữa. Điểm sơ sơ 10 chương mà đã gần chục nàng, thế này tác phẩm này có hơn 400 nhân vật cũng không ngoa chút nào. Ấy cơ mà, Genji thích cái đẹp, lại đặc biệt thích kiểu chuyện tình éo le miễn là không để thiên hạ biết là được nên thích các nàng cũng không khó hiểu lắm, còn các nàng thì vì dung mạo cũng như tài năng kia mà cũng đổ đứ đừ (ngoại trừ phu nhân Rokujo nhất quyết cự tuyệt chuyện qua lại thì toàn bộ đều đang hoặc đã từng có mối quan hệ thân mật với Genji).

Không biết xã hội thời Heian có thế thật không chứ kiểu sống “thoáng” thế này tôi nghĩ người hiện đại cũng thấy nó khá là …kỳ *smile*. Nếu bỏ qua yếu tố đạo đức thì dù chỉ đọc 10 chương đầu tôi rất thích không khí của truyện mang lại, cổ kính nhưng rất lãng mạn. Điểm tôi thích nhất là những bài thơ, điều đáng nói ở đây là những bài thơ ngắn này (tôi không biết thể loại của nó) là thơ kiểu đối đáp, chàng nhớ nàng cũng gửi vật kèm thơ, nàng để đáp lễ cũng gửi thơ lại (về khoản này thì người xưa giỏi thật, xuất thơ cứ gọi là vừa hay vừa chuẩn).

Câu chuyện có xu hướng kể lại cuộc đời Genji, chương 1 – chương 9 có thể nói là cuộc sống xa hoa, phong lưu của chàng, chương 10 sau khi thái thượng hoàng mất (cha Genji, đời vua đã chuyển đến đời thứ hai là anh em cùng cha khác mẹ với Genji) thì địa vị cũng như cuộc sống của Genji không được như trước nữa. Tiềm ẩn trong mỗi chương cũng có những hờn ghét cuả một số người đối với chàng, và ở chương 10 sau vụ “phiêu lưu tình ái” của Genji với con gái quan Udaijin (Hữu Đại Thần) – người chuẩn bị được đưa vào cung thì tôi rất tò mò không biết có chuyện gì xảy đến với Genji. Cho đến khi đọc hết tác phẩm này (có thể sẽ phải rất lâu nữa) thì món khai vị mà Murasaki Shikibu mang đến cho tôi cũng làm tôi rất thỏa mãn.

(20/4/2017)

Posted in Cảm nhận

1976 (A Xá)

1976

Tác giả: A Xá

Về câu chuyện tình yêu của Lâm Vũ Thanh (1/10/1960-?/9/1976) và Lý Ngôn Tiếu

Đọc online ở đây

Vũ Thanh là tiếng mưa rơi.

Ngày đó chúng ta ở sân nhà anh ngắm mưa rơi, em là kẻ bị thời cuộc phải xa bố mẹ, xa gia đình, xa Liên Vân Cảng mà đến sống ở Thanh Đảo, em bị cái gọi là Cách mạng văn hóa của chủ tịch Mao, của nước nhà mà chán ghét cả cái tên thứ hai là Lâm Mộ Đông. Mộ Đông, một lòng hướng tới chủ tịch Mao Trạch Đông, một lòng ngưỡng mộ Người, một cái tên bình thường để ba mẹ che đi thân phận con cháu tư sản của em. Lâm Khánh Hoa không còn, em cũng không muốn làm Lâm Mộ Đông nữa. Anh nói Vũ Thanh thì sao.

Ngày đó, em trở thành Lâm Vũ Thanh, Lâm Vũ Thanh của anh.

Anh là nghệ sĩ tài hoa.

Nhớ lần đầu chúng ta gặp nhau không, anh mặt trắng toát (vì vẽ để diễn hí kịch) gặp em bị lạc ở Thanh Đảo, em bảo anh dẫn đến chỗ xem kịch, anh vui vẻ dắt em. Em từ kẻ vốn không thích hí kịch nhàm chán mà say mê giọng hát của anh. Sau này khi hí kịch bị cấm diễn, anh vẫn cứ hát nhưng chỉ hát cho mình khán giả là em. Trong căn phòng rộng đặt đàn piano, anh thường diễn hí cho em xem. Và rồi sau dưới ánh trăng, anh lại dạy em cách chơi piano. Chúng ta phải giữ chân vào pedal để giảm âm thanh xuống hết mức tránh cho hàng xóm nghe thấy.

Anh là người giúp đỡ em nhiều nhất.

Anh dạy em học trước, dạy em cách tra từ điển, cách tính toán, cách học tiếng anh. Em có thể không ngừng nhảy lớp nhờ công anh nhiều anh lắm đấy. Anh còn dạy em cách đối phó với cuộc sống ở trường, cái cuộc sống mà khắp nơi toàn Hồng vệ binh, mọi người đọc sách của Chủ tịch mỗi sáng, ra chơi, trước khi về, thậm chí lúc nào ai cũng phải có một cuốn mang theo bên người,… Nghĩ lại thì em lúc nào cũng phải khiến anh lo lắng. Vì em mà anh cắt đứt với người nhà, vì em mà anh tích cóp, điều chỉnh sinh hoạt, không còn lối sống của một công tử bê tha, lương bác sĩ không nhiều nhưng anh vẫn nuôi em (dù em vẫn còn tiền cha mẹ để lại), hết lòng chăm sóc em. Phải nói là quá ưu ái rồi, vậy mà lúc gian nan nhất người buông tay lại là em! Nhưng thật may sau đó chúng ta đã làm hòa trở lại.

Anh là kẻ ngang tàng, đầu đội trời chân đạp đất, nhưng anh nào phải quân tử, anh chắc chắn thích làm tiểu nhân hơn. Em sẽ nhớ mãi đứa trẻ hơn em mấy tuổi luyện tập ném đá bao ngày trời để trả thù thằng đánh em và anh. Em sẽ nhớ cậu thiếu niên bỏ trốn cùng em vào đêm trước ngày xem mắt để đưa em về Liên Vân Cảng tìm lại gia đình, một lần thôi, dù là lần cuối. Với anh hứa thì đã làm, có thù thì phải báo, mà thà chết chứ không chịu nhục. Chính vì thế em hiểu chứ, bị đấu tố, và bắt đi cải tạo, hẳn trong đấy anh đã chịu khổ nhiều lắm.

Trong cuộc đời Lâm Vũ Thanh em, bất hạnh là sinh ra thời này, nhưng vì bất hạnh đó mà gặp được anh cũng đáng. Khi sợi dây cuối cùng gắn kết với thế gian này đã mất thì em cũng không còn lý do gì để lưu lại đây nữa rồi.

Posted in Cảm nhận

Mao Trạch Đông

Về Mao Trạch Đông, comuaxuan xin giới thiệu cuốn sách “Trung Quốc của Mao Trạch Đông” do GEO Epecho xuất bản, được Phan Ba dịch tại đây(các bạn có thể theo dõi trang này, đây là một trang khá hay).

Nội dung cuốn sách này nêu khá cụ thể (và có tính châm biếm) cuộc đời của Mao Trạch Đông. Để hiểu rõ thêm về Cách mạng văn hóa, và lai lịch cũng như mối quan hệ của Lâm Bưu, Giang Thanh, .. với Mao Trạch Đông, xin hãy đọc bài viết này.

Posted in Cảm nhận

Cha tôi Đặng Tiểu Bình (Mao Mao)

Cha tôi Đặng Tiểu Bình

Tác giả: Mao Mao

ChaToiDangTieuBinh.jpeg

“Cha tôi Đặng Tiểu Bình” là một cuốn tự truyện viết bởi Mao Mao, con gái thứ của Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình có hai người vợ (?)  (theo như trong sách là như vậy, tôi thấy trên wiki ghi là ba). Người vợ đầu tiên chết trong cách mạng, sau ông có một người vợ khác tên là Trác Căn. Ông có năm người con: Đặng Lâm (trưởng nữ), Đặng Phác Phương (con thứ nhưng trưởng nam), Đặng Nam, Đặng Dung (là Mao Mao), Đặng Chất Phương (tên cúng cơm là Phi Phi).

Đặng Tiểu Bình từng giữ qua các chính vụ: Phó Chủ tịch Đảng, Tổng thư ký Trung ương Thư ký Xứ Đảng Cộng sản Trung Quốc (còn gọi là Tổng thư ký Ban Bí thư Trung Quốc), Phó Thủ tưởng Quốc vụ viện, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Giải phóng nhân dân Trung Quốc, chủ tịch Ủy ban toàn quốc Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc, Chủ tịch Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng và Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tuy rằng ông chưa bao giờ có chức vụ nguyên thủ quốc gia hay đứng đầu chính phủ nhưng ông là người đã cầm quyền trên thực tế tại Trung Quốc trong suốt những năm cuối thập niên 1997 (những năm cuối của cách mạng văn hóa) đến đầu thập niên 1990.

Tôi đến với cuốn sách này là sau khi đọc được một số bài viết về Cách mạng văn hóa (1966-1976) của Trung Quốc. Sở dĩ tôi có hứng thú về chủ đề này là bắt nguồn từ cuốn tự truyện 1976. Bản thân tôi đối với cuộc cách mạng này hoàn toàn là bài xích, nói thật tôi thấy nó hoàn toàn điên rồ. Có thể Mao Trạch Đông giỏi thật (dù sao thì ông ta cũng đưa Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm quyền xứ Thần Châu ấy, đánh bại Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch, góp phần đánh bại quân Nhật (khoảng từ năm 1940-1945) sau khi Nhật nhảy vào và thảm sát năm 1937) nhưng sau đó thì tôi thấy ông ta điên thật. Một cuộc Đại nhảy vọt (1959-1961) và một cuộc Cách mạng văn hóa (1966-1976), không biết ông ta có nghe thấy tiếng kêu gào thảm thiết của dân chúng không nữa. Tôi thấy Mao Trạch Đông (26/12/1893-9/9/1976) giống như vị hoàng đế có tài nhưng tàn bạo thời phong kiến, ông ta có cả một cái “cung điện” to đùng trong Trung Nam Hải và ông ta là tối cao nhất, thậm chí nắm quyền đến lúc chết. Qua “Cha tôi Đặng Tiểu Bình” có thể thấy ông ta được tôn sùng như thế nào, một kiểu sùng bái cá nhân thậm chí tôn cá nhân đấy lên hơn cả bậc vĩ nhân, một lời nói của “Chủ tịch” hoàn toàn có thể quyết định sự nghiệp, mạng sống của một người, một lời bình của chủ tịch hoàn toàn có thể giúp người ta vin vào làm cớ vu khống người khác (Vào khoảng năm 1975, có một hôm Mao Trạch Đông sau khi nghe Vương Hồng Văn đọc Thủy Hử cho mình, có bình vài câu, lời bình đó nhanh chóng được nhóm bốn tên: Giang Thanh, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên xào nấu để cho đăng báo các bài viết công kích Đặng Tiểu Bình).

Tiến trình của Cách mạng văn hóa rất dài, kéo dài tới những mười năm, bắt đầu bằng sự kiện ngày 10/11/1965, trên báo Văn hối xuất bản ở Thượng Hải có in một bài viết của Diêu Văn Nguyên: “Bình vở kịch lịch sử mới viết lại: Hải Thụy bãi quan” đã phê bình nhà sử học Ngô Hàm, người đã soạn và sáng tác lại vở kịch Hải Thụy bãi quan, đồng thời nhân đó phê phán cung cách gọi là “đòi lật án” của Bành Đức Hoài. Cả một tiến trình mười năm hầu như được gói gọn trong sách (tất nhiên là những sự kiện liên quan đến Đặng Tiểu Bình), sự kiện và các nhân vật ông to bà lớn thì rất nhiều, thú thật tôi không nhớ hết nổi, đại khái Cách mạng văn hóa chính là cuộc cách mạng phê phán giai cấp tư sản đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa, mà theo Mao Trạch Đông thì đây là cuộc đấu tranh giai cấp, để xã hội đại loạn thì đại trị sẽ đến mà lãnh đạo phong trào này là Lâm Bưu, Giang Thanh, Khang Sinh, Trương Xuân Kiều về sau Khang Sinh, Lâm Bưu chết thì hình thành nhóm bốn tên: Giang Thanh, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều. Trong Cách mạng văn hóa, mọi thứ liên quan đến “tư bản” đều bị phê phán, bị đấu tố bao gồm: địa chủ, phú nông, phản cách mạng, phần tử xấu, phái hữu, phản bội, đặc vụ và theo tư bản, thậm trí cả tri thức (hay còn gọi là Lão chín thối do xếp thứ chín trong danh sách này). Trong thời gian Cách mạng văn hoá, chính trị rối ren, xã hội hỗn loạn, sản xuất bị phá hoại. đời sống nhân dân khó khăn. kinh tế đã đứng bên bờ vực thẳm suy sụp Trong Cách mạng văn hoá, hàng loạt cán bộ lão thành từ trên xuống dưới bị đánh đổ, bị hãm hại, số người trong các giới, các địa phương trên toàn quốc bị vu cáo, bị liên quan vào các loại tội danh, là một con số khó tính toán. Kể từ khi Cách mạng văn hoá bắt đầu vào tháng 10.1966, chỉ trong vòng chưa đầy nửa năm những người bị xếp vào loại “trâu ma, rắn quỷ”, rồi bị đuổi từ thành phố về nông thôn lên tới hơn 397.000 người. Từ hạ tuần tháng tám đến cuối tháng 9.1966, chỉ trong vòng hơn bốn chục ngày, riêng một thành phố Bắc Kinh đã có hơn 85.000 người bị đuổi về quê cũ, 1.772 người bị đánh chết, hơn 33.000 hộ bị lục soát, khám xét nhà cửa. Trong vòng hơn 4 năm từ năm 1967 đến năm 1971, những cán bộ lãnh đạo cao cấp bị tống giam vào ngục tối ở thành phố Bắc Kinh là trên 500 người, trong đó số bị hành hạ dày vò đến chết là 43 người, bị mang thương tật, tàn phế trên 20 người, những người bị mắc bệnh tâm thần là trên 60. Trong suốt cuộc Cách mạng văn hoá, các mặt chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá. giáo dục v.v… đều bị phá hoại nghiêm trọng. Những người trong cách mạng văn hóa có cái gọi là “dính líu” đến “tư bản” một chút (như ông bà từng là tư bản chẳng hạn) là bị đem phê phán, tên bị dán chữ to ngoài đường phố, bị đem đi đấu tố, bị người ta chửi bới, mắng nhiếc, thậm chí thời đó hồi giai đoạn đầu có cả những Hồng vệ binh (những học sinh mười mấy tuổi nghe theo lời kêu gọi của chủ tịch) mà cũng tham gia đấu tố. Học sinh đánh thầy giáo, tróc nã những nhà “tư bản” là chuyện bình thường, thậm chí học sinh còn giết cả thầy giáo. Nhà giáo chết đầu tiên là cô Biện Trọng Vân vào ngày 5/8/1966.

35.jpg

Khủng bố: Cô giáo Biện Trọng Vân (với chồng và ba trong số bốn người con của bà) se là người chết đầu tiên trong số các nạn nhân của cuộc Cách mạng Văn hóa. Bà làm việc tại một trường trung học nổi tiếng ở Bắc Kinh và bị chính các nữ sinh của mình hành hạ cho tới chết. Những người đấy đã đánh đập và xỉ nhục bà nhiều tuần liền vì cho rằng bà phản bội lý tưởng Cộng sản. Ảnh: GEO Epoche

Đối với gia đình Đặng Tiểu Bình, một quan chức cấp cao, kẻ bị cho là “cầm đầu thứ hai của giai cấp tư bản”, cũng bị cách ly, bị phê phán, bị dán chữ to, bị đấu tố. Con cái bị tách ra khỏi bố mẹ, phải sống ở một góc xập xệ, phải bị mang danh là “con của kẻ cầm đầu thứ hai”, bị phê phán, bị giám sát. Con trai trưởng Đặng Phác Phương và con gái Đặng Nam thậm chí từng bị bọn phê phán (do bọn lãnh đạo Cách mạng văn hóa lãnh đạo) bắt giam ở trường đại học Bắc Kinh để hỏi cung. Anh Phác Phương bị bức đến nỗi nhảy lầu tự tử, anh không chết nhưng bị liệt nghiêm trọng phần từ ngực trở xuống. Nếu như không phải Mao Trạch Đông đối với Đặng Tiểu Bình luôn suy tính có thể dùng lại ông thì gia đình ông hẳn đã chết thảm như gia đình Lưu Thiếu Kỳ – “kẻ cầm cầu thứ một của giai cấp tư bản” rồi. Cuốn sách cũng khắc họa bè lũ bốn tên mà đặc biệt là Giang Thanh, một mụ đàn bà độc ác đồng thời cũng cho thấy phần nào con người của Đặng Tiểu Bình. Tôi khá là có cảm tình với cá tính thẳng thắn, dám làm của ông ấy. Ông ấy có câu nói nổi tiếng là “Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng miễn là nó bắt được chuột”.

Đặng Tiểu Bình là một người có tài kinh bang tế thế, Trung Quốc thật may khi có ông lãnh đạo sau cách mạng văn hóa với những chính sách khôi phục, mở cửa kinh tế, mà thành quả của nó thì nay người ta cũng có thể thấy rồi.

(2/1/2017)

Posted in Cảm nhận

Thế gian này nếu chẳng còn mèo (Kawamura Genki)

Thế gian này nếu chẳng còn loài mèo.

Kawamura Genki

(Phong Đan dịch)

29

Với tôi thì “Thế gian này nếu chẳng còn loài mèo” đọc truyện hay hơn phim, lúc xem phim tôi chỉ ấn tượng được anh bạn Tsutaya còn lại thì không cảm xúc lắm nhưng đến khi đọc truyện nhân vật nào, chi tiết nào tôi cũng thích hết. =^^=. Ngôn từ quả nhiên có sức mạnh thật diệu kỳ.

Nếu anh nhân vật chính không bị ung thư gan…

Thì không có câu chuyện này (tất nhiên) và anh ý sẽ tiếp tục làm bưu tá, tiếp tục sống với con Bắp Cải, tiếp tục không nói chuyện với cha và ghét ông, tiếp tục xem phim Tsutaya đề cử, tiếp tục lặng lẽ sống như thế. Một cuộc sống rất tẻ nhạt (có lẽ), theo tôi thấy nếu anh này có thể thay đổi vài khía cạnh về các mối quan hệ của mình với một vài người (ví dụ như cha anh ) thì sống thế này cũng không tệ lắm. Nhưng mà đời thì lắm cay đắng, anh nhân vật chính phát hiện mình bị ung thư giai đoạn bốn năm 30 tuổi và phải đối mặt với sự thật rằng mình sắp chết. Tôi hiểu cảm giác sốc, đau khổ, sợ hãi bla bla đó (vì hồi xưa tôi cũng từng tưởng tượng nếu về già mình ngỏm thì như thế nào haha).

Nếu ác quỷ không xuất hiện…

Thì tôi tin chắc anh ý cũng sẽ nhận ra được giá trị chân thực của thế giới, rằng cái chết là điều mọi sinh linh không thể tránh khỏi, rằng mọi thứ tồn tại trên thế gian này đều có cái lý của nó. Giống như Yuuko trong XXXHolic nói : “ Trên đời không có chuyện ngẫu nhiên chỉ có chuyện tất nhiên”, kể cả những thứ do con người đặt ra như thời gian, ngày, tháng, năm,… những thứ “có cũng được không có cũng được” như phim ảnh, âm nhạc,… thì đều mang trong mình trân giá. Rằng chúng sẽ nâng đỡ cảm xúc, nuôi dưỡng ký ức và rằng ký ức sẽ không chỉ dừng lại ở bộ nhớ của não bộ mà còn ở trong thân thể không chỉ ở trong con người mà trong cả con vật.

““Mày có nhớ ra gì không?”

Sau khi kể xong câu chuyện về chuyến du lịch cuối cùng với gia đình, tôi gặng hỏi Bắp Cải.

[..]

“Con chỉ nhớ đúng một điều là nó rất hạnh phúc.”

“Rất hạnh phúc ư?”

“Đúng vậy ạ. Con chỉ còn nhớ mang máng rằng lúc chụp tấm ảnh này con đã rất hạnh phúc. Vậy thôi””

(tr 136)

Mọi thứ đó tôi tin chắc anh sẽ hiểu nếu anh có thời gian sống lâu hơn như 1 tháng hay nửa năm. Có lẽ cũng vì chỉ còn vài ngày ngắn ngủi mà Chúa muốn anh gặp ác quỷ để anh “giác ngộ” được đó (chết cho thanh thản). Bạn ác quỷ này rất đáng yêu, chí ít thì theo tôi là như thế. Ác quỷ ở trong tim mỗi người, ác quỷ không có hình dạng nhất định, thành hình thế nào là do thành kiến trong mỗi người áp đặt lên thôi. Triết lý này của tác giả làm tôi nhớ đến nhân vật Sebastian của Hắc Quản gia, lâu rồi không đọc tiếp truyện này, ấn tượng của tôi về Sebastian cũng từa tựa kiểu này này.

Và nếu ảnh không có Bắp Cải (hoặc một em mèo nào đó) bên cạnh…

Tôi từng đọc được ở đâu đấy có bài khảo sát tâm lý cho thấy đàn ông nuôi mèo là những người tình cảm, tinh tế gì gì đó, theo tôi thì đứng trước một sinh vật đáng yêu như mèo thì ai cũng phải mềm lòng thôi (haha). Bắp Cải không chỉ là thú cưng mà còn là bạn cùng phòng, bạn cùng giường, người “con” mà người mẹ đã chết gửi gắm, là bạn tinh thần, thậm chí chính là người cứu rỗi khiến nhân vật chính hiểu ra giá trị của cuộc sống. Sống không chỉ là nằm ở việc sống, dù rằng có hối hận thì những cảm xúc hỉ, nộ, ái, ố chính là thứ tạo nên bộ phim của chúng ta.

Bắp Cải.

Anh ác quỷ.

Người mẹ.

Người cha.

Cô bạn gái cũ.

Tsutaya

Anh nhân vật chính.

Tôi không có lấy một cái tên người nhưng chắc chắn những cảm xúc hôm nay sẽ đọng lại trong bộ phim của chính tôi.

(22/1/2017)

Posted in Cảm nhận

Quo Vadis (Henryk Sienkiewicz)

Quo Vadis

[Quo Vadis, Domine? : Thưa thầy, thầy đi đâu?]

Henryk Sienkiewicz

2.jpg

Bản thân tôi rất ít khi đọc các tác phẩm văn học kinh điển vì nhiều bộ tôi thấy rất là buồn ngủ, nhiều lúc tự hỏi tại sao người ta lại thích cho được. Nhưng khi tôi đọc được “Quo Vadis”, tôi phải thốt lên rằng đây là một tuyệt tác, ấy vậy mà khi search từ khóa “quo vadis” trên google, ngoài các bài wiki và một số bài nước ngoài ra, dường như tôi không thấy có bài viết Việt Nam nào. Chả nhẽ tác phẩm này ở Việt Nam lại không thu hút độc giả như thế? *khóc ròng* Chả nhẽ không có ai cùng thích nó như tôi ư? Thôi thì tôi đành tự an ủi mình rằng gu đọc sách của mỗi người khác nhau vậy.

Quo Vadis là một tác phẩm tiểu thuyết lịch sử có yếu tố sử thi lấy bối cảnh về đế chế La Mã dưới thời bạo chúa Nero (Nero Claudius Drucus Germanicus: 15-68). (để có thể hiểu thêm về câu chuyện, xin hãy đọc thêm bài về lịch sử đế chế La Mã tại đây). Cuốn tiểu thuyết trải dài với những cuộc chiến: cuộc chiến ban đầu giành lấy người mà mình yêu của chàng sĩ quan Vinixius dưới sự giúp sức của chú mình Petronius, cuộc chiến tranh giành sự sủng ái của Nero giữa các quan với nhau, rồi thì cuộc chiến không đáng có do sự ganh ghét của Poppea (người vợ của Marcus Salvius Otho sau Nero thông dâm cùng rồi cưới làm phi, sở dĩ là phi vì Nero đã giết chết mẹ, vợ, em trai mình), cuộc chiến giữa các Kito giáo và Nero, cuộc chiến giữa vị thần Cricux của Kito với đa thần của La Mã, cuộc chiến giữa chân lý yêu thương với thế giới điên loạn cuồng hoan, giữa nhà duy mỹ với kẻ hề cứ cố bám lấy cái gọi là “nhà nghệ sĩ chân chính”. Tất cả hòa quyện trong lời văn lúc châm biếm lúc thương yêu, trong những câu thoại dường như chỉ cần đọc lên thôi cũng thấy như mình đang hát, bởi câu thoại chan chứa trong mình những lời ca của sử thi, của thần thoại Hy Lạp. Đây là một điểm mà tôi rất thích ở thơ văn xưa, đó là họ nói ý với nhau thông qua những hình ảnh, những câu chuyện, những điển tích mà nếu nói thông thường, theo lối văn hiện đại ngày nay thì gọi là theo lối nói thật, thẳng ( phũ) thì không thể diễn đạt hết được. Mà hơn nữa, cái cách mượn bóng mượn gió ấy tôi thấy hay hơn gấp nhiều lần những câu từ thóa mạ nhau, những lời thô tục bây giờ. Như kiểu “cầu cho đối với các cháu đảo Xyxilia sẽ thành một khu vườn Herperyda, cầu những nữ thần đồng nội, những nữ thần rừng và thần suối sẽ rải đầy hoa trên đường các cháu đi, cầu cho bồ câu trắng kéo về làm tổ trên những hàng cột và những trang trí hình là oro của nhà các cháu”. Có lẽ vì vậy, tôi rất thích kiểu tác phẩm như thế này.

Qu0 Vadis dữ dội như thế là nhờ cốt truyện và tuyến nhân vật của nó. Tác phẩm xoay quanh câu chuyện tình yêu của chàng sĩ quan Vinixius và nàng Kito giáo Ligia tại Roma – thành đô mà Nero ngự trị. Truyện sẽ sóng yên bể lặng nếu như nàng Ligia không từ chối chàng Vinixius vì cách biệt tôn giáo, để rồi Petronius (vì giúp cháu) mà xin vị hoàng thượng ban hôn. Tai ương đến bởi Poppea sợ Nero sẽ say đắm một kẻ xinh đẹp hơn nàng nên vu cho Ligia giết con trai của Nero và mình. Với sự giúp đỡ của chú Petronius, chuyện này êm xuôi nhưng rồi Nero với sự say cuồng đến điên dại về nghệ thuật của mình, y muốn chứng kiến cảnh một đô thành vĩ đại cháy như thành Troy năm xưa để y có thể chắp bút xướng lên bài ca vĩ đại, thế là hoàng đế hạ lệnh đốt thành Roma. Giữa khói lửa và tiếng la hét ngút trời, y kéo các quan lên một ngọn đồi để đứng đó, nghe y hát khúc ca vĩ đại nhất. Nhưng hoàng đế là một tên nhát gan, sau khi thấy dân chúng nổi loạn và bắt đầu đổ tội cho y, y tìm cách chống lại, y sợ, và rồi y (theo lời kẻ gian) đổ tội lên đầu Kito giáo. Người ta lùng sục Kito giáo khắp nơi, bất cứ ai theo Kito giáo đều bị bắt. Hoàng đế tổ chức các cuộc thi trong hý trường, dân chúng sẽ thỏa sức xem kẻ bị cho là đốt thành kia bị thú vật ăn thế nào, bị đóng đinh vào thập tự ra sao, bị giết, bị hành hạ, bị làm nhục (với trinh nữ) như thế nào, và thậm chí trở thành ngọn đuốc sống trong vườn hoàng đế ra sao. Còn người đọc thì sẽ thấy Nero điên rồ thế nào, cái thú thích máu me của người La Mã kinh khủng thế nào, cái thành đô đó cuồng loạn ra sao, để rồi giữa thành đô đó hai vị đức sứ đồ chăn dắt đàn con chiên (đã tử vì đạo của mình) chết như thế nào. Cái chết đó giống như khúc khải hoàn, cái chết đó hơn hết thảy nghệ thuật gì đó của hoàng đế, cái chết đó giết đi hai người nhưng đạo lý họ truyền cho con chiên của mình còn mãi và lớn mạnh lên, trong khi nghệ thuật của hoàng đế kia chết ngay khi y dùng dao kết liễu cuộc đời mình.

Các nhân vật được miêu tả tương đối kỹ từ suy nghĩ, diễn biến tâm trạng đến hành động. Ai cũng đặc sắc nhưng tôi thấy ấn tượng nhất chính là Petronius, người chú của Vinixius. Đó là một con người rất giỏi, rất tài, và hơn hết ông “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Ông là nhà duy mĩ, là người chỉ sống vì cái đẹp, lấy đêm làm ngày, sống sung sướng, xa hoa nhưng không trụy lạc. Một con người yêu nghệ thuật, hiểu nghệ thuật, và cảm nghệ thuật thực sự. Một con người khôn ngoan biết cách khen vào đâu để Nero thỏa mãn, chê chỗ nào để Nero cũng phải thấy xấu hổ. Ông không cần xu nịnh, xun xoe để được Nero sủng ái, ông chỉ đơn giản khen chỗ cần khen và che chỗ cần chê, và vì chỉ duy ông cảm được nghệ thuật ấy – điều mà Nero không tìm được ở ai khác quanh mình. Ông cũng là một con người vô cùng tình cảm (điều này ông chỉ thể hiện ở những người ông yêu quý). Ông hết lòng tìm mọi cách giúp người cháu trai của mình nhất là lúc Ligia bị bắt giam vì bị phát hiện là người Kito, thậm chí mất luôn cả sự sủng ái của Nero. Và Petronius cũng là người đầy kiêu hãnh. Nero ghét ông, Nero muốn giết ông nên tử hình ông. Được, ông tự chết theo cách của ông. Ông chọn chết cùng cái đẹp trong bữa tiệc quý phái, tao nhã mà mình tổ chức, bên những ly rượu ngon, trong tiếng nhạc của những bài ca dành cho các vị thần và (không biết ông có nên vui không khi) bên cạnh là nàng Eunixe xinh đẹp sẵn sàng chết cùng ông. Máu chảy từ mạch máu hai người, ông vẫn nói chuyện với khách, vẫn nhạc, vẫn lời ca, và dưới ánh dương đỏ hai người dần dần đi vào giấc ngủ. Hỡi Nero, trong đời ngươi đã có phút giây nào hơn ta ngoại trừ địa vị hoàng đế của ngươi chưa?

Và bên cạnh đó, những chi tiết dã man, dễ dàng khiến người đọc yếu tim buồn nôn là những chi tiết miêu tả cách tra tấn người Kito. Quả thực đọc đến những đoạn này tôi chỉ đọc lướt vì nó thực sự rất kinh khủng. Ngoài ra nhan đề của tác phẩm đầy đủ là “Quo Vadis, Domine” (thưa thầy, thầy đi đâu?). Cụm từ này bắt nguồn từ một truyền thuyết của đạo Kito. Tương truyền, khi Nero ra lệnh truy nã và khủng bố các tín đồ Kito, sứ đồ Piotr phải rời khỏi Roma lánh nạn. Trên đường đi Pior thấy Đức Chúa Cricux hiển hiện, bèn hỏi : “Qu0 Vadis, Domine” (Người đi đâu vậy thưa Đức Chúa) . Chúa đáp: “Khi ngươi rời bỏ dân ta thì ta phải đến Roma đóng đinh câu rút lần thứ hai”. Sứ đồ Piotr tỉnh ngộ, quay về Roma, rồi tử vì đạo cùng các con chiên. Tác phẩm cũng được dựng thành phim rồi nhưng trình tiếng anh của tôi chưa đủ để hiểu hết nó (xấu hổ quá). À, bản của Nguyễn Hữu Dũng dịch rất hay nữa.

Quo Vadis là một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời, quả xứng đáng với giải thưởng Noben văn học (1905). Dù bản thân nó là rất là dày (cuốn tôi đọc khổ dài, trang nào cũng đặc chữ mà hơn 650 trang lận) nhưng rất đáng đọc luôn, thậm chí còn có thể vắt nước mắt của bạn. Chính tôi khi đọc đến cái chết của Petronius cũng nức nở một hồi.

(Ngày 14/1/2017)

Posted in Cảm nhận

Quân vương (Niccolo Machiavelli)

Quân vương

Niccolo Machiavelli

(bản của Nhã Nam- Thiếu Khanh dịch)

19.jpg

A.Một số điều cần biết về nước Ý (có liên quan đến tác phẩm)

Tên đầy đủ: Cộng hòa Italia

Thủ đô: Rome

Thành phố chính: Milan, Napes, Palermo, Bologna, Florence, Venice

Thể chế chính trị : cộng hòa

Tôn giáo : Đạo thiên chúa giáo La Mã khoảng 90 %, khác 10 %

Ngôn ngữ: tiếng Italia (chính thống) ngoài ra còn sử dụng tiếng Đức, Pháp, Slovence

Phân chia hành chính:

15 vùng bao gồm: Abruzzo, Bassilicata, Calabria, Campania, Emilia-Romegna, Latium, Liguria, Lombardia, Marche, Molise, Piedmont, Apullia, Tuscany, Umbria, Veneto

5 khu tự trị bao gồm:

Friuli-Venezia Giulia, Sardinia, Sicilia, Trentino-South Tyrol và Aosta Valley

(Vì chưa có thời gian kiểm chứng xem các khu vực này có thay đổi so với nửa cuối thế kỷ 15 nửa đầu thế kỷ 16 nên chỉ có thể nói tương đối: những khu vực xuất hiện trong tác phẩm: Lombardia, Tuscany, Umbria (maybe), Friuli-Venezia Giulia, Sardinia (maybe))

Bản đồ nước Ý (vị trí ở châu Âu)

20.jpg

Bản đồ hành chính các khu vực:

21.jpg

B: Về Niccolo Machiavelli và “The Prince” (tiểu sử đã có đầy đủ trong sách, người viết có tìm được một số facts sau)

1.Machiavelli chết lúc 58 tuổi, kết hôn năm 1502, có 4 con trai và 2 con gái

*được xem là một trong những nhà tư tưởng chính trị quan trọng nhất thời Phục hưng

*coi một bang (the state – trong sách là “thân vương quốc”) như một tế bào [có tổ chức] (orgarnism) với người làm luật (quân vương) là phần đầu và con dân là phần thân

*Tác phẩm “Quân vương” giải thích một quân vương giỏi nên cai trị như thế nào. (should continue to grow)

  1. 2. Tác phẩm The Prince của Machiavel chỉ là một cuốn sách mỏng nhưng là kết quả của 15 năm làm việc miệt mài khổ công của tác giả. Ngày 22.6.1527, Machiavel qua đời, thọ 58 tuổi. Khi ông chết, chẳng một ai biết tới tác phẩm của ông. Bốn năm sau khi ông chết, Giáo Hoàng Clement VII (1531) cho xuất bản “Quân vương”. Từ đó, sách này được in ra và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Cả thế giới bình luận ồn ào, có kẻ ca ngợi là tuyệt tác phẩm chính trị, kẻ khác lại kết tội “Quân vương” là cuốn sách dơ dáy tội lỗi được viết bởi ác quỉ.

Có lẽ J. J. Rousseau là người đưa ra nhận xét đúng nhất: “Quân vương”là con dao hai lưỡi, một mặt nó giúp cho quân vương chiếm quyền hành nhưng mặt khác nó giúp cho quần chúng thấy được các thủ đoạn của
quân vương

Từ đầu thế kỷ 17, tại Âu châu, cuốn sách “Quân vương” trở thành một quái vật huyền thoại. Hầu như mọi vua chúa và cận thần đều say mê đọc và nghiền ngẫm cuốn sách mỏng này. Không ai có thể ngờ ảnh hưởng của nó đã làm thay đổi cả lịch sử loài người với nhiều chuyện buồn hơn là vui.

Năm 1614, Richelieu là hồng y giáo chủ kiêm thủ tướng nước Pháp ra lệnh cho tu sĩ Machon viết sách ca ngợi Machiavel. Năm 1787, chính phủ Ý cải mộ của Machiavel đem về an táng tại nghĩa trang quốc gia để nắm xương của ông được nằm bên cạnh các vĩ nhân Dante, Galilee, Michel Ange, Rossini và trên mộ của Machiavel được khắc dòng chữ “Không có lời ca ngợi nào xứng đáng với tên ông”.

Quả vậy, tên của ông đã tạo ra một lô danh từ trong các tự điển của mọi nước Âu Mỹ: Machiavelism, Machiavelic, Machiavelian… có nghĩa là chính sách xảo quyệt, xảo trá, nham hiểm, ác độc. Có một điều không ai phủ nhận, tác phẩm “Quân vương” đã là sách gối đầu giường của các bạo chúa từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20. Từ Richelieu đến Napoléon đều dùng sách của Machiavel để hoạch định chiến lược. Thậm chí khi Napoléon bị thất trận tại Waterloo, người ta đã phát giác ra trên xe của Napoléon có dán nhiều mảnh giấy chép lại nhiều đoạn trong sách “Quân vương”.

Năm 1924, Mussolini dựa vào sách “Quân Vương” để phát minh ra Chủ nghĩa Phát Xít. Moussolini tuyên bố: “tôi xác nhận rằng lý thuyết của Machiavel ngày nay còn sống mạnh hơn 4 thế kỷ qua”. Hitler cũng là đệ tử của Machiavel. Sau thế chiến thứ hai, người ta mới nhận rõ hơn khuôn mặt ghê tởm của chủ nghĩa Machiavel qua tham vọng nô lệ hóa thế giới của Hitler. Qua cuốn sách của Arthur Koesler, người ta mới biết cả Stalin cũng luôn luôn giữ ở đầu giường một cuốn “Quân vương”.

C.Xin tìm đọc về hai cha con Giáo Hoàng Alexander VI và Ceasar Borgia – hai nhân vật được nhắc đến nhiều nhất trong tác phẩm cũng như là hai con người đưa tội ác lên mức “nghệ thuật”

D.Tác phẩm “Quân vương”

“Quân vương” đơn giản chính là sách hướng  dẫn người ta (mà cụ thể là bậc vua) cai trị vương quốc (bối cảnh Ý lúc đó một nước giống một bang trong quốc gia liên bang bây giờ) như thế nào. Tất nhiên là kẻ đó trước tiên phải có bản lĩnh cùng các yếu tố hội tụ mà theo phương Đông gọi là “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” thì mới làm vua được.

Machiavelli viết tác phẩm vào thế kỷ XV tức là xã hội phong kiến. Vào thời đại chuyên chế đó, việc có một tác phẩm viết về “cách trị dân” thì cũng không có gì là lạ (giống như phương Đông có “Binh pháp tôn tử” không phải là chỉ các thủ đoạn trong chiến trận hay sao?). Việc người đời sau nhìn nhận tác phẩm tốt hay xấu rõ ràng không phải tại tác giả mà là do người đọc có cái nhìn như thế nào, hay thậm chí dùng nó vào mục đích thế nào. Bản thân Machiavelli giờ đã là một nhân vật lịch sử, người sau không nên áp đặt cái nhìn của thời hiện đại để phê phán, chỉ trích nhân vật.

Vậy cho nên, đọc “quân vương”, theo như tôi thấy,

  • nếu bạn là một con người hết sức bình thường không làm chức tước gì to tát trong xã hội thì nên bỏ qua những cách chỉ dẫn cai trị (không có nghĩa là không nên đọc chỉ là không nên học hỏi) mà chú tâm vào những chỗ chỉ dạy bản chất con người mà cư xử cũng như các bài học cuộc sống, ví dụ

“Người ta quên cái chết của cha mình mau hơn là quên số tài sản thừa kế bị tước đoạt” (tr 113)

“Có ba loại tri thức: một loại tự thân đã hiểu biết; loại thứ hai hiểu được giá trị tri thức của những người khác; loại thứ ba đã không tự hiểu biết mà cũng không hiểu được giá trị  tri thức của người khác. Loại đầu ưu tú nhất, loại thứ hai tốt, loại thứ ba thì vô dụng” (tr 147)

“Thần nghĩ rằng số mệnh quả đã chi phối một nửa hành động của chúng ta, nhưng cũng chừa lại cho chúng ta điều khiển một nửa hoặc gần một nửa hành động của mình.” (tr 157)

“Vì thế thần kết luận rằng số mệnh không ngừng thay đổi, nhưng bản tính con người thì khó dời […] số mệnh cũng giống như đàn bà, là tình nhân của những người trai trẻ, vì người trẻ thì ít thận trọng hơn, bạo liệt hơn, và điều khiển nàng một cách táo bạo hơn.” (tr 161)

  • nếu bạn làm vai trò quản lý (đã, đang, sẽ) thì các chỉ dẫn trong cuốn sách này có thể có ích nếu bạn vận dụng linh hoạt.
  • nếu bạn đọc giải trí thì tất cả điều bạn cần làm là lật trang 181 đọc phần “cuộc đời của Castruccio Castracani của Lucca”, câu chuyện này sẽ kéo dài đến trang 215 và TẤT CẢ NHỮNG GÌ TRONG 35 TRANG NÀY chính là toàn bộ nội dung, ứng dụng của các chỉ dẫn mà cuốn sách này đem đến.

Anw, cái người Castruccio này tôi thấy là rất giỏi luôn, đặc biệt là lời nói khôn ngoan và đanh thép (tôi thì thấy hài hài)

Vd: Castruccio quen biết một cô gái và sau đó cô ta trở thành người tình của ông, nên ông bị một người bạn chê trách rằng để phụ nữ cám dỗ như vậy thì không xứng đáng với địa vị cao quý, Ông đáp : “Nàng có cám dỗ ta đâu. Ta cám dỗ nàng đấy chứ”. (tr 212)

Nhìn chung, “quân vương” là một tác phẩm dễ đọc, dễ hiểu (chỉ có địa danh là lạ và kỳ thực tôi cũng không hình dung rõ những lãnh thổ khu vực đó) và đáng để bạn đọc một lần.

(6/1/2017)